“Chốn địa đàng cuối cùng”- (The last Shangri-la), “Thiên đàng nơi hạ giới”, “Đất nước hạnh phúc nhất thế giới”, “Thụy Sĩ của phương Đông”… Đấy là một vài danh xưng khác của vương quốc Bhutan. Một quốc gia với diện tích 47.500km2 và dân số chừng 70 vạn người, nằm kín trong vùng lục địa Nam Á, lọt thỏm giữa hai quốc gia to lớn là Ấn Độ và Trung Hoa. Bhutan tuy bé nhỏ nhưng vẫn an nhiên tự tại giữ gìn nguyên vẹn bản sắc văn hóa của đất nước mình, là xứ sở còn bảo tồn được Phật giáo Himalaya nguyên thủy cùng với nguyên vẹn những cánh rừng nguyên sinh đang che phủ hơn 72% diện tích đất nước với phong cảnh tuyệt đẹp.
Triết lý hạnh phúc
Bhutan là nước duy nhất trên thế giới cấm săn bắn và đánh cá. Là nước duy nhất cấm được chuyện hút thuốc lá trong dân chúng. Là nước duy nhất đưa ra khái niệm “tổng hạnh phúc quốc gia” (gross national happiness-GNH) thay cho tổng sản phẩm quốc nội (gross domestic product) bởi theo Quốc vương Jigme Singye Wangchuck, người đưa ra khái niệm GNH, ông cho rằng GDP chưa chắc mang lại hạnh phúc cho người dân mà hạnh phúc chính là sự phát triển nhằm vào sự tăng tiến giá trị đời sống nhưng vẫn bảo tồn được thiên nhiên và văn hóa, chứ không phải nằm ở số lượng vật chất sản xuất và tiêu thụ!
Người dân Bhutan biểu diễn những bài hát và điệu múa truyền thống tại Lễ hội Tshechu.
Thập niên 1950-1960, khi Mỹ và Liên Xô đã phóng những vệ tinh vào vũ trụ thì Bhutan vẫn chưa có… đường ôtô, và cũng chỉ hơn mười năm trước, năm 1999, khi Internet bắt đầu phổ biến trên thế giới thì ở Bhutan người dân bắt đầu nhìn thấy những “chiếc hộp kỳ lạ” biết ca hát và nhảy múa – đấy là những chiếc tivi đầu tiên đến với xứ sở Bhutan. Có nhiều câu chuyện hài hước của người dân khi tiếp cận với phương tiện văn minh này, rằng nhiều người dân đã chui xuống gầm giường để… trốn khi thấy trên tivi những võ sĩ to béo đang nổi giận chỉ vì sợ “họ nhảy ra khỏi cái hộp đó và đánh mình” (!). Một họa sĩ khi đang vẽ bức tranh tường trên Tu viện Taktshang (Tiger’s Nest), cheo leo trên vách đá ở độ cao hơn 700m, đã suýt rơi khỏi giàn giáo vì trông thấy một “ngôi nhà hình con cá khổng lồ đang chao lượn và gầm rú” – mà thật ra đó là chiếc máy bay đang chuẩn bị hạ cánh xuống phi trường Paro gần đó.
Những câu chuyện thoạt nghe có vẻ hài hước nhưng đằng sau nó chứa đựng hình ảnh một Bhutan dường như rất xa lạ với thế giới văn minh! Vậy nhưng chỉ hơn mười năm sau đó, giờ đây Bhutan đang là giấc mơ của nhiều quốc gia khác, và cũng chỉ là giấc mơ thôi, bởi để có được những gì Bhutan đang có không phải dễ. Với công thức làm nên tổng hạnh phúc quốc gia (GNH) dựa trên bốn mục tiêu: phát triển kinh tế – xã hội bền vững/bảo vệ môi trường/bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống/một chính quyền hoạt động hiệu quả và trong sạch.
Một du khách ngồi cùng với những phụ nữ Bhutan để cho họ xem những bức ảnh trên điện thoại di động của cô ấy, Thimphu
Chỉ bốn vấn đề ấy thôi, nhưng khi tìm hiểu về GNH của Bhutan, tôi đã tìm thấy trong tài liệu của The Centre for Bhutan Studies (CBS-Trung tâm Nghiên cứu Bhutan), để tính toán chỉ số hạnh phúc của người dân Bhutan, những nghiên cứu viên của trung tâm này đã có những chỉ số tính toán mà tôi chưa bao giờ nghe thấy, ví như số giờ ngủ bình quân của một người Bhutan trong năm (!) bởi theo tính toán của GNH, để người dân ngủ đủ số giờ cần thiết cũng là một chỉ số đo lường hạnh phúc! Lo đến từng giấc ngủ cho dân cả một nước, chỉ riêng chuyện này thôi đủ cho chúng tôi tin Bhutan thật sự là “địa đàng chốn trần gian” dù những ngày ở Bhutan chúng tôi biết dân Bhutan chưa phải giàu có, nhưng hạnh phúc với người Bhutan lại không nằm ở những chuyện bạc tiền vật chất, điều ấy có lẽ ngược lại với nhiều xứ sở khác trên Trái đất này!
Bản sắc hay là… chết!
Một trong những dấu ấn văn hóa để lại ấn tượng nhất từ đất nước này có lẽ chính là các “dzong”. Dzong là những pháo đài ngày xưa được dựng lên để bảo vệ đất nước, giờ đây dzong trở thành những trung tâm tôn giáo và hành chính, với vẻ đẹp bền vững bề thế của pháo đài, vừa rực rỡ, sang trọng như những lâu đài, cung điện.
Thật kỳ lạ khi biết rằng những pháo đài được xây dựng cách nay 5-6 thế kỷ với diện tích rộng đến hàng hecta này lại không hề có đồ án thiết kế kiến trúc ban đầu, tất cả đều đặt dưới sự chỉ huy của một vị latma cao cấp. Và cho dù bề thế, đồ sộ như vậy nhưng các dzong được dựng nên mà không hề dùng đến chiếc đinh nào.
Ở thủ đô Thimphu, không thể không ghé đến Tashichoe dzong hay còn gọi là Thimphu dzong. Nếu pháo đài bề thế nằm bên dòng sông Wangchu này ngày nay được dành để đặt các cơ quan hành chính của nhà nước đồng thời cũng là “cung điện mùa hè” cho các vị lãnh đạo Phật giáo, thì Punakha dzong ở cố đô Punakha được gọi là “cung điện mùa đông” bởi Punakha nằm ở độ cao thấp hơn, khi thủ đô Thimphu tuyết rơi phủ trắng mái dzong thì Punakha vẫn ấm áp và hoàng gia có thể dời về đây. Punakha dzong đẹp đến sững sờ nếu bạn đến đây đúng vào mùa phượng tím.
Nằm ở nơi hợp lưu của hai con sông Phochu (trống) và Mochu (mái), pháo đài này được dựng lên từ thế kỷ 17 và sau nhiều lần hư hại vì động đất, hỏa hoạn, nó vẫn được trùng tu với vẻ đẹp vô cùng tráng lệ. Nơi đây hơn 100 năm về trước, năm 1907, vị vua đầu tiên của vương triều Wangchuck, vua Ugyen Wangchuck, đã làm lễ đăng quang.
Tashichoe dzong hay Thimphu dzong – “cung điện mùa hè” cho các vị lãnh đạo Phật giáo Punakha dzong ở cố đô
Punakha được gọi là “cung điện mùa đông”
Tuy nhiên pháo đài – tu viện hiển linh nhất, thánh địa của người Bhutan lại ở Paro, miền tây Bhutan, đấy là Taktsang, nằm trên một vách đá cheo leo ở độ cao hơn 3.000m, và đến hôm nay khi đến đây vẫn không ai có thể hiểu được vì sao người ta có thể xây một tu viện cheo leo trên một vách đá dựng đứng vô cùng hiểm trở như thế. Bởi từ đấy nhìn xuống, dễ bị ngộp bởi hun hút một đáy vực sâu đến 750m!
Tu viện Paro Taktsang (Tiger’s Nest), một biểu tượng của Thung lũng Paro ở Bhutan.
Bhutan, theo thống kê có đến hơn 2.000 dzong, những pháo đài này lại thường nằm trên những đỉnh núi cao hay các triền dốc nguy hiểm. Lịch sử vệ quốc của Bhutan, với những công trình dzong như vậy, khiến người ta không thể không buột miệng: Làm sao có thể xây dựng được những công trình ở một địa thế như thế? Hỏi cũng là trả lời, bởi thực tế là các dzong đã hiện diện qua bao nhiêu dâu bể hàng thế kỷ và nay vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, thời chiến là “pháo đài”, thời bình là “lâu đài”, đó có phải là một cách thế để Bhutan tồn tại, bất chấp những láng giềng của Bhutan quanh dãy Himalaya đã dần… biến mất.
Ví như vương quốc Ladakh bị triệt phá vào năm 1842 rồi sau đó sáp nhập vào Ấn Độ; Tây Tạng trở thành một phần của Trung Quốc năm 1950; vương quốc Sikkim, láng giềng phía tây của Bhutan, từ hơn 40 năm nay cũng thành một tiểu bang của… Ấn Độ.
Hình ảnh những dzong (tu viện) chênh vênh trên sườn núi có thể gặp bất cứ đâu ở Bhutan
Trong khi nhiều nước đẩy nhanh số lượng khách quốc tế bằng mọi giá, lấy con số du khách đến xứ sở mình như một thước đo minh chứng sự phát triển du lịch thì Bhutan lại không màng đến… số lượng. Hiện nay, chính sách du lịch ở Bhutan đã thông thoáng hơn nhưng số lượng khách đi du lịch Bhutan vẫn bị hạn chế. Mỗi năm chỉ có khoảng 35.000 khách du lịch nước ngoài đến đây bởi chính phủ chỉ tập trung vào việc truyền bá văn hóa Bhutan mà không phát triển theo hướng vui chơi, giải trí. Chỉ riêng mức ấn định lệ phí 250 USD/du khách/ngày khi đặt chân lên Bhutan đã hạn chế một số lượng đông đảo khách “du lịch balô”, vốn là những người đi du lịch rất tùng tiệm và tiết kiệm.
Để có một tour Bhutan hơn một tuần, khách phải nộp cho nguồn thu của đất nước Bhutan hơn 2.000 USD, cộng với vé bay khứ hồi từ Bangkok hay Kalkota đến Paro của Hãng Drukair tròm trèm 1.000 USD nữa là gần 3.000 USD. Với số tiền ấy, nếu không vì một hấp lực đặc biệt từ đất nước này, người ta sẽ lựa chọn một chuyến châu Âu hay Mỹ chứ không phải đến xứ sở chỉ có núi đồi cây cỏ và những tu viện lọt thỏm giữa điệp trùng thăm thẳm Himalaya.
Với Bhutan, bảo vệ văn hóa không chỉ ở chuyện gìn giữ tôn tạo các dzong hay chọn lọc du khách, truyền nối các giá trị truyền thống, chuyện quy định bắt buộc với quốc phục là một thí dụ về sự “tự vệ” của Bhutan. Đàn ông ở đây với trang phục gho, là một áo choàng với đai thắt ngang bụng, phần áo phía trên đai thắt khi kéo thụng xuống sẽ thành chiếc túi đựng rất tiện dụng, bên trong có thể mặc áo lót (áo phông), chân đi giày và vớ (tất) cao đến đầu gối. Khi trời nóng có thể lột phần trên để lộ áo phông. Phụ nữ mặc kira gồm váy phủ chấm gót và áo dài tay. Với quy định quốc phục này, nhiều người không thuộc tộc Drupkpa đã phải rời khỏi Bhutan vào đầu thập niên 1990.
Các vũ công nữ biểu diễn trong Lễ hội Thimphu Tshechu nổi tiếng ở sân Tashichho Dzong.
“Là một đất nước nhỏ, chúng tôi không có sức mạnh về kinh tế. Chúng tôi không có lực lượng quân sự mạnh, không có một vai trò lớn trên quốc tế bởi dân số quá bé nhỏ và cũng bởi chúng tôi là một đất nước khép kín. Yếu tố duy nhất có thể gia tăng sức mạnh chủ quyền của Bhutan và bản sắc độc đáo của chúng tôi là văn hóa”.
Đấy là lời giải thích của vua Jigme Singye Wangchuck với phóng viên New York Times từ năm 1991 được National Geographic trích dẫn lại trong một số báo chuyên đề về Bhutan của tờ tạp chí nổi tiếng này.














